Dấu thiêng của Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đất Hải Phòng

Lễ khánh thành tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên núi Voi (An Lão)
Lễ khánh thành tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên núi Voi (An Lão)

Phương pháp đây vừa tròn 708 năm, ngày mồng 3-11 năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16 (1308), Đức vua - Phật hoàng Nai lưng Nhân Tông viên tịch tại am Ngọa Vân trên non thiêng Lặng Tử, thọ 51 tuổi. Ngài là vị vua thứ ba của triều È cổ (1225-1400) đầy hiển hách. Trong 15 năm trị vì nước nhà (1278-1293), Hoàng đế Trần Nhân Tông đã chỉ huy quân dân Đại Việt nhị lần đánh tan quân xâm lăng Nguyên Mông. Trên đất Hải Phòng còn lưu giữ đông đảo vết tích thiêng của Đức vua - Phật hoàng Nai lưng Nhân Tông.

Đức vua È Nhân Tông tên húy là È cổ Khâm, sinh ngày 11 04 tuần 11 năm Mậu Ngọ (1258), năm hai vua È cổ Thái Tông và Trần Thánh Tông chỉ đạo quân dân Đại Việt đánh tan quân xâm lăng Thát Đát lần thứ nhất tại Đông Bộ Đầu. Ngài là con trưởng của Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Ngày 22 bốn tuần 10 năm Mậu Dần (1278), Ngài lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (1279-1284), Trùng Hưng (1285-1293). Năm 1293, vua Nai lưng Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) khiến Thái Thượng hoàng, nhưng vẫn lãnh đạo và giám sát vua Anh Tông.

Vốn sùng kính đạo Phật trong khoảng bé dại, năm 1295, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông đến chùa Vũ Lâm, huyện Yên ổn Khánh, trấn Trường Yên (nay thuộc xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư - Ninh Bình), thực tập xuống tóc với Quốc sư Huệ Tuệ. Đến bốn tuần 10 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), 41 tuổi, Ngài tham gia núi Im Tử, chính thức tu hạnh Đầu Đà, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Do uy tín, đức độ, trí óc của Trúc Lâm Tam Tổ mà Thiền phái Trúc Lâm đã tụ hội được các tông phái Phật giáo của Đại Việt thành một tổ chức Phật giáo hợp nhất. 

 Đức vua - Phật hoàng È cổ Nhân Tông chọn vùng non thiêng Im Tử để tập hợp tín đồ để truyền bá giáo lý Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng với ý thức “Cư è lạc đạo” của bản thân mình, chẳng phải là một sự chọn bất chợt. Khi còn là Tổng lãnh đạo và đích thân xông pha chiến trường chống giặc Nguyên Mông xâm lược, È cổ Nhân Tông và quân đội nhà È cổ đã nhiều lần nhận được sự giúp sức, chở che của dân chúng, tăng ni, Phật tử vùng rừng núi non hiểm trở miền Đông Bắc và vùng cửa biển Bạch Đằng.

Giữa lúc nguy hiểm nhất, bị giặc phong bế, truy hỏi đuổi gắt gao, vua È Nhân Tông và Thái Thượng hoàng đã được Trằn Lại - người làng Hữu Triều Môn (Thuỷ Nguyên) dâng cơm gạo; dân làng Thuỷ Chú (Thuỷ Nguyên), Chân Kim (Dương Kinh) cử người kín đáo đưa Vua và Thượng Hoàng vượt vòng vây vào Thanh Hoá chuẩn bị cuộc phản công ý tưởnrg.

Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo hoàng thượng Trằn Quốc Tuấn và phòng ban tham vấn chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được các vị sư trụ trì chùa Đỏ (Linh Độ tự), chùa Vẽ (Hoa Linh tự) ở làng Đoạn Xá dịch vụ. Chùa Thiểm Khê (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi È Hưng Đạo luyện tập binh sĩ sẵn sàng cho cuộc chiến Trúc Động năm 1288.

Chùa Mai Động (Liên Khê - Thuỷ Nguyên) là nơi quân đội triều đình xây dựng kho lương dịch vụ chiến dịch Bạch Đằng năm 1288. Các làng phố phía Nam quận Vĩnh Bảo còn lưu truyền hồ hết câu chuyện cảm động về căn cứ Lưu Đồn ở quận Thái Thụy - tức cung điện dã ngoại (gọi là cung È Vương) của vua Nai lưng Nhân Tông ở vùng hạ lưu sông Hóa, đối ngạn với quận Vĩnh Bảo.

Đề cập đến động cơ tu hành của Yếu tố Ngự Giác Hoàng - Đệ nhất Tổ È Nhân Tông chẳng thể không nhắc đến vai trò và ảnh hưởng hoành tráng của Hưng Ninh vương Nai lưng Quốc Tung, đạo hiệu là Tuệ Trung thượng sĩ. Sách Tam tổ thực lục chép rằng: “Nhân Tông tìm hiểu những yếu chỉ của Tuệ Trung thượng sĩ, thu nhặt được phổ thông tinh hoa của đạo Thiền, nên vẫn thờ Tuệ Trung là thầy”.

Tuệ Trung thượng sĩ È Quốc Tung là con cả của An Sinh Vương È Liễu, mẹ là Thiện Đạo phu nhân Lý Thị Nguyệt. Ngài là anh cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu (mẹ của È cổ Nhân Tông). Trằn Quốc Tung là bậc danh thần lỗi lạc. Ngài đã phổ thông lần làm sứ thần tới trại giặc để nghị hòa và trinh sát ở Tổng hành dinh Thoát Hoan.

Thi hành kế sách giữ nước, nhà Trằn chủ trương “toàn dân vi binh, tông tử duy thành” (toàn dân khiến cho quân nhân, các thân vương cùng lo bảo vệ vương triều) và một trong những chính sách kinh tế được nhà È cổ áp dụng là phong cấp thái ấp cho các vương hầu quý tộc và những người có công để làm phên dậu kiểm soát an ninh chính quyền. Vốn là người có nhiều công sức trong sự nghiệp chống đế quốc Nguyên - Mông (từng được cử làm Phó Tổng tư lệnh cánh quân phía Đông do Quốc công tiết chế giễu Nai lưng Hưng Đạo đảm nhận) nên sau khi khải hoàn, Hưng Ninh vương È Quốc Tung được vua Trần giao trấn giữ miền biên tái Thái Bình (vùng Hải Dương và Hải Phòng hiện nay). Ở làng Dưỡng Chính, phường Chính Mỹ, thị xã Thuỷ Nguyên, các nhà sử học đã phát hiện thấy vết tích Tịnh thất Dưỡng Chân của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trằn Quốc Tung.

Núi Voi (An Lão)
Núi Voi (An Lão)

  Do ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm và uy tín cũng như đạo hạnh của È cổ Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, đạo Phật thời Trần ở vùng đất Hải Phòng phát triển rất thịnh đạt. Đương thời, vùng này hình thành đa dạng chùa, tháp với quy mô lớn như: chùa Đông Khê (Nguyệt Quang quẻ tự), chùa Dư Hàng (Phúc Lâm tự), chùa Thường Sơn (Hàm Long tự), chùa Phù Lưu (Thiên Vũ tự), chùa Mỹ Cụ (Linh Sơn tự), chùa Vẽ (Hoa Linh tự), chùa Núi Voi (Long Hoa tự), chùa Kha Lâm, chùa Vân Bạn dạng…

Đáng xem xét là công chúa Thiên Thuỵ - chị gái vua È cổ Nhân Tông đã chiêu mộ dân khai hoang, đắp đê ngăn mặn, mở rộng nhiều làng phố ở thị xã Kiến Thuỵ và An Lão. Thái trưởng công chúa Thiên Thuỵ (công chúa Quỳnh Trân) cho dựng chùa Mõ ở trang Nghi Dương (phố Ngũ Phúc - Kiến Thuỵ). Một người chị khác của È Nhân Tông là công chúa Chiêu Chinh đã bỏ tiền tài làm cho chùa Kha Lâm, mở chợ Bến Đò, khai hoang đất ở ven sông Lạch Tray (thị xã Kiến An) và tu sửa chùa Long Hoa ở núi Voi...

Theo ngọc phả đền Kha Lâm, công chúa Chiêu Hoa (con gái trong bình dân của vua Trần Thánh Tông) cùng chồng là Thái Học Sinh Cao Toàn, người làng Phù Liễn (Kiến  An) dốc lòng giúp dân làng Phù Liễn (Kiến An), làng Tiểu Trà (Kiến Thụy) mở mang thôn ấp, dựng chùa thờ Phật. Sách Đồng Khánh dư địa chí và Hải Dương Toàn hạt dư địa chí, mục từ miếu quận Tiên Minh chí chép: “Trằn Nhân Tông sau khi nhường nhịn ngôi vua, tới tu ở chùa Yên Tử. Một hôm từ Thiên Trường qua Diên Lão (nay thuộc phố Tiên Minh, quận Tiên Lãng) gặp gỡ phụ lão kính cẩn nghênh tiếp, Nhân Tông rất hài lòng, cho là dân nơi đây nhân thức lễ ban cho tên là Diên Lão; lại dặn sau này thấy trên mặt sông có vật lạ thì rước về thờ sẽ được chở che. Ngày Điều Ngự giác Hoàng nhập nát bàn trên núi Yên Tử, phụ lão Diên Lão thấy có phiến đá trôi ngược dòng sông bèn rước về lập đền thờ gọi là Trần Nhân Tông trong khoảng (tức đền thờ È Nhân Tông), rất linh ứng. Hòn đá nay vẫn còn ở trong đền”…

Tỳ kheo Thích Thanh Giác


Tham khảo thêm: váy ngủ gợi cảm giá rẻ hà nội
Previous
Next Post »