Qua thơ Trằn Huyền Trân, những địa danh bình thường cũng đi tham gia lịch sử

Nhà thơ Trần Huyền Trân
Nhà thơ Trần Huyền Trân

Ngày thơ vn lần thứ 14 diễn ra vào sáng 22-2-2016, tức rằm bốn tuần Giêng năm Bính Thân, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Thủ đô), 50 câu thơ hay được thả lên trời trong đó có câu: "Cây đổ hiện lên chiến sĩ/ Gạch vụn hiện lên anh hùng" của thi sĩ Trần Huyền Trân (1913-1989). Đây là câu thơ khắc họa loài người Đất Cảng cần lao mà can đảm trong bài thơ nổi tiếng "Hải Phòng 19-11-1946". Bài thơ này cùng với "Nhớ máu" của Nai lưng Mai Ninh, "Đèo Cả" của Hữu Loan được gọi là “tam tuyệt thi” quá trình đầu nội chiến chống Pháp.

Nai lưng Huyền Trân tên thật là È cổ Đình Kim, quê gốc ở huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Im, hiện ra và lớn lên tại khu Cống Trắng, xã Khâm Thiên, Hà Nội. Nơi đây vừa là nơi những người cùng cực tứ xứ lên kiếm sống bám tham gia đô thị, vừa là nơi chơi bời trác mai táng, bài bạc, lầu xanh, cô đầu, các tiệm khiêu vũ thời thượng Pháp, Nhật.

Theo nhà văn Tô Hoài trong "Phê bình - bình luận văn học" (NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh), sở dĩ Nai lưng Đình Kim có bút danh Trằn Huyền Trân là vì: Thời gian sống ở thị trấn Khâm Thiên, ông có chạm chán một người con gái khiến việc cho quán hát ả đào tên gọi Trần Nguyệt Hiền, do có thai nên bị đuổi việc. Khi cô Hiền khô trở dạ, È Đình Kim đã giúp sức cho mẹ tròn con vuông, đứng tên khai sinh cho bé nhỏ gái không phụ vương, và: "Chút duyên chết đuối trong tình cảnh ấy của nhì loài người họ Trằn giữa cơn âu sầu đời người đã làm họ nghĩ ra cái dấu nối đẫm nước mắt. Trần nối với È bằng dấu huyền là È cổ Huyền Trân, đấy là tên con và rồi là tên thơ yêu quý của anh..". Bút danh này cho ta thấy cái tâm của ông trước căn số người thiếu phụ yếu thế chứ không liên quan gì tới tên nàng công chúa Huyền Trân thời nhà È.

Trước Cách mệnh Tháng Tám, ông nhập cuộc viết báo, sáng tác thơ văn, là cây bút quen thuộc của "Tiểu thuyết thứ bảy", "PR", "Nhiều bán nguyệt san"... Trong phong trào Thơ Mới, Trần Huyền Trân cùng hai thi nhân đồng điệu là Thâm Tâm, Nguyễn Bính thuộc thi phái "áo bào gốc liễu". Ông tham gia Việt Minh và Hội Văn hóa cứu quốc trong khoảng năm 1943. Sau khi quốc gia giành được chủ quyền (1945), ông khiến việc ở Đoàn kịch Bốn tuần Tám. Từ năm 1954, Nai lưng Huyền Trân chuyển sang hoạt động chủ chốt ở ngành nghề sân khấu. Ông mất ngày 22-4-1989 tại Thủ đô, để lại một gia tài văn học, nghệ thuật khá khổng lồ, gồm 13 vở kịch - kịch thơ, 17 vở chèo, hàng loạt tiểu thuyết và hơn 100 bài thơ cơ bản sáng tác trước Cách mệnh 04 tuần Tám. Với những đóng góp trên, Nai lưng Huyền Trân được truy nã tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.

Trong “Thi nhân vn” của Hoài Thanh - Hoài Chân, Trằn Huyền Trân là khuôn mặt sau cùng được trình bày trong số 45 nhà Thơ Mới. Sự hiện ra muộn mằn ấy được tác giả "Thi nhân vietnam" cắt nghĩa như sau: “Viết tới đây, tôi định khép cửa lại, dẫu có nhân kiệt đến gõ cửa cũng không mở. Thế mà lại phải tạo dựng cửa để đón một nhà thơ nữa: Trần Huyền Trân. Trằn Huyền Trân, loài người có cái tên lạ ấy, không phải là một anh tài. Nhưng tôi ưa những vần thơ hiền khô và ít nói yêu đương”.

Song nghiên cứu toàn diện thơ È Huyền Trân, chúng ta thấy thơ ông không nhân từ, đúng như thi sĩ Vân Long nhận xét: "Thật nhớ tiếc là Hoài Thanh - Hoài Chân đã không kịp nghiên cứu kỹ nhà thơ này, cũng bởi lẽ È Huyền Trân không xuất lộ sớm hơn". Năm 2013, tại lễ tưởng vọng 100 năm ngày sinh thi sĩ (1913-2013) diễn ra tại Hà Nội, giới phê bình văn chương hậu thế đã ghi kiếm được: “Chẳng phải Trần Huyền Trân là cái tên may mắn được lọt vào những khuôn mặt của “Thi nhân vn” mà trái lại, tăm tiếng của ông góp phần hoàn chỉnh hơn cho dung mạo của Thơ Mới”.

Nhà thơ Vũ Quần Phương bình chọn: “Những thi sĩ thuộc phong trào Thơ Mới viết bằng tình cảm lãng mạn, si mê. Nhưng È Huyền Trân lại tấn công thức người ta dậy và tỏa chất men đương đầu, không bằng lòng với cuộc sống hiện tại và yên cầu một sự thay đổi”. Quả vậy, lực lượng thơ "áo bào gốc liễu" của ông có một phong cách riêng, sử dụng những thể "ca", thể "hành" để bày tỏ tâm tư, chí khí của bản thân trước thời cục: Nguyễn Bính có "Hành phương Nam", Thâm Tâm có "Đưa tiễn hành", È Huyền Trân có "Độc hành ca" viết năm 1940. Giáo sư Hoàng Như Mai từng đánh giá: "Độc hành ca" của thi sĩ Nai lưng Huyền Trân là một tuyên ngôn của thế hệ văn nghệ lãng mạn tuyên bố cáo bình thường cho một thời kỳ sáng tác và bắt đầu một thời kỳ sáng tác khác!".

Kháng cự lại thực tại cuộc sống thuyệt vọng, hoàn cảnh tăm tối nước nhà lúc bấy giờ, È Huyền Trân đã nhập thế cùng dân tộc, nhập cuộc Việt Minh, Hội Văn hóa cứu quốc trong khoảng năm 1943. Phong trào cách mạng càng ngày càng dâng cao, thơ ông giai đoạn này tiêu biểu như bài “Lớp người chưa chết” viết năm 1945 đã đề đạt tình hình xã hội lúc ấy như "nồi nước sôi" đang dồn chứa sắp bung trào.

Rồi dự cảm trong thơ ông đã thành hiện thực, Cách mệnh Bốn tuần Tám thắng lợi, quốc gia giành lại độc lập sau hơn 80 năm trời nô lệ. Cùng dân tộc hoan hỉ chào cuộc sống mới, thơ ông tuy vẫn còn dư âm Thơ Mới nhưng đã bay bổng, kiêu hãnh hơn: "Khói lửa bốc hoa tay kẻ sĩ /Bốn phương về thảo chính khí ca" (trích bài thơ "Đi trên đường Thủ đô sau ngày Tuyên ngôn độc lập 1945").

Nhưng thơ ông thực sự bùng nổ, thực thụ thay đổi, thoát xác hoàn toàn khi ông chứng kiến quân, dân Hải Phòng đứng lên chống Pháp khai hấn, tái xâm lược vào cuối năm 1946. Bài thơ "Hải Phòng 19-11-1946" hào sảng, tuôn trào, dồn dập vang lên như tiếng kèn xung trận, khởi đầu cho dòng thơ binh cách chống Pháp oanh liệt. Bài thơ mở màn nói về cuộc sống của người địa phương Hải Phòng thời quân lính: "Này đây/ Cu li phen gian khổ/ Ngủ với chuột, ăn với ruồi/ Phụ vương gục xuống, đồng đội con bước nối/ Áo hở da, cơm tưới mồ hôi"…

Nhưng trước vận mệnh dân tộc lâm nguy, người Hải Phòng đứng lên tranh đấu, trút căm hận vào quân xâm lược, quyết giữ cho được nền độc lập non trẻ mới giành được: "Lửa reo, lửa thét.../ Lửa xuống cửa ga/ Xe tăng giẫy chết/ Lửa tham gia Cát Bi/ Phi cơ toang hoang/  Hải Phòng khu Bảy tay ôm ấp lửa/ Một gia đình thiêu một đạo binh" và "Hải Phòng! Nảy lửa trong nhà hát lớn/ Mười ba cảm tử cười hơn hớn/ Còn viên đạn sau cuối/Nhà hát rung"…

Chưa bao giờ trong lịch sử văn học, những người bị tha hóa, ở tầng đáy của phường hội cũ khi được giác ngộ, thức tỉnh giấc tinh thần dân tộc, lại được ghi kiếm được ấn tượng tương tự: "Cả những gái Pháp kêu đồ đĩ/ Cả những trai Nhật gọi lưu manh/ Cả những anh "bấu sấu, voi xanh"/ Nửa đêm nay dao tày gậy bẩy/ Đi băm nát thời bầy tớ ấy...".

Qua tài thơ của Trằn Huyền Trân, những địa danh chung cũng đi tham gia lịch sử: Chi nhánh Con, Căn tin Sắt, cầu Ca rông, ga An Dương, Cát Bi, quán bà Mau, Hạ Lý, Cánh Gà, Nhà hát lớn… Hải Phòng kháng chiến đầy đủ, đâu đâu cũng là trận mạc ác liệt, vì người Hải Phòng có sứ mạng lịch sử giao phó: "Hải Phòng chẳng khoanh tay đau khổ/ Hải Phòng trấn cõi Biển Đông", vì người Hải Phòng tin tham gia Đảng, vào Bác bỏ Đại dương, tin tham gia tương lai giang sơn: "Bữa qua đói rét lao tù tù/ Ngày mai tươi sáng no đủ đời đời".

Về trị giá nghệ thuật, bài thơ có ngôn trong khoảng, hình ảnh, thi pháp mới hơn cả "Thơ Mới". Ngay tới nhan đề bài thơ cũng lạ, mới, chưa từng có trong văn thơ tổ quốc, báo cáo cả tới địa danh, ngày, bốn tuần, năm… Nhà phân tích Đặng Tiến trong bài "Câu thơ cách mệnh" kiếm được xét: "Trào lưu Thơ Mới sản xuất một khí hậu mới, một thế giới mới cho thi ca nhờ có phổ quát bài thơ hay. Nhưng xét theo từng câu thơ một, thì câu thơ - tổ chức ốm nhất của thi ca - câu thơ 1932 -1945 không mới.

Chẳng hạn những bài nổi tiếng nhất: "Tràng Giang" của Huy Cận, "Nguyệt Cầm" của Xuân Diệu, "Đây Thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử, câu thơ không mới. Phải tới cuộc Cách mạng 04 tuần Tám, nền văn học ta mới có những câu thật sự mới, trong cấu trúc âm thanh và hình ảnh, thành những bài thơ mới diễn đạt tình cảm và tư duy mới, liên minh thuần thục nhị thành tố bất ly thân mà thời đó người ta thường gọi là nội dung và chế độ, theo sự phân biệt sơ đẳng".

"…Trằn Huyền Trân, đã nổi tiếng với cả một môn phái "Độc hành ca", đã mở mang thơ bản thân mình cho sóng lớn tràn bờ, bài "Hải Phòng 19-11-1946": "Nổ súng rồi/Nổ súng rồi/Hải Phòng cuồn cuộn dâng như sóng biển/...Hải Phòng lừng lững đứng lên/ Hải Phòng gớm ghê...". Các bậc thi vương, thi bá trong phong trào Thơ Mới sẽ không bao giờ viết câu "Hải Phòng ghê gớm".

Giảng nghĩa cho sự biến đổi này, có nhà tìm hiểu đã bình chọn chí lý: "Ở những giai kỳ lịch sử, khi tâm hồn toàn bộ dân chúng bị xáo trộn dữ dội, thi ca - dự báo của ý thức và tư tưởng - lại lột xác đi mua ngữ thức mới để bộc lộ", và "Ý, chữ, câu, cuồn cuộn tung thơ, chảy thành dòng cuồng nhiệt xôn xang… Thời điểm loàn ly ấy, người ta không thể nói ngắn, chẳng thể viết đằm. Ngọn núi lửa đang phun không có kiến trúc." (Trích công trình phê bình văn chương được giải thưởng Hội Nhà văn vn năm 1996).

Hiện thực cuộc sống sinh động tại Hải Phòng đã giúp È Huyền Trân sáng tác nên một bài thơ hay để đời. Ngược lại, nhờ tài thơ của ông, Hải Phòng đã có một tượng đài nghệ thuật kháng chiến hoành tráng. Thực vậy, nếu có nhà điêu khắc tạo hình nào muốn khiến tượng đài về Hải Phòng, chỉ cần đọc và cảm bài thơ này, nó lắng đọng hồ hết hình ảnh đẹp của các nhóm thiết bị thị trấn mà tiêu biểu là các chiến sỹ Vệ quốc đoàn, Công an xung phong, với cuộc chiến quyết tử ở Hí trường lớn đô thị, cuộc chiến đấu đốt cháy xe tăng, máy bay địch ở ga và sân bay Cát Bi…; hình ảnh tự vệ đô thị bảo vệ nhà máy, xí nghiệp,; hình tượng công chúng lao khổ, phu phen, thợ thuyền với vũ khí thô sơ vùng lên "Đi băm nát thời quân lính ấy", họ biến thành những anh hùng áo vải, chân đất: "Nhân thức bao nhân vật liệt sỹ vô danh!".

"Hải Phòng 19-11-1946" là một trong những bài thơ hay nhất về đô thị Hoa phượng đỏ, mong sao đô thị sẽ có một con đường mang tên È cổ Huyền Trân để vinh danh, tri ân người nghệ sỹ tài hoa này.

Khánh Toàn


Xem thêm: váy ngủ gợi cảm
Previous
Next Post »